BỆNH TRUYỀN NHIỄM VÀ BỆNH KÝ SINH

Ký sinh trùng là sinh vật ký sinh trên sinh vật khác lấy chất dinh dưỡng của sinh vật đó làm thức ăn đồng thời gây hại cho sinh vật đó. Qua thực tế sản xuất có định nghiã khác: Hiện tượng ký sinh là mối quan hệ phức tạp giữa 2 cơ thể. Trong đó một sinh vật tạm thời hay thường xuyên cư trú ở trong hay ở trên cơ thể một sinh vật khác lấy tổ chức cơ và dịch thể của sinh vật ấy làm thức ăn cho mình đồng thời gây hại cho sinh vật đó. Với ý nghĩa này làm sáng tỏ 3 mối quan hệ: Quan hệ chổ ở, quan hệ dinh dưỡng, quan hệ gây hại. Động vật sống ký sinh gọi là ký sinh trùng. Sinh vật bị sinh vật khác gây tác hại gọi là ký chủ. Ký chủ không những là nguồn cung cấp thức ăn cho ký sinh trùng mà còn là nơi cư trú tạm thời hay vĩnh cửu của nó. Các loại biểu hiện sự hoạt động của ký sinh trùng và mối quan hệ qua lại giữa ký sinh trùng với ký chủ gọi là hiện tượng ký sinh. Khoa học nghiên cứu một cách có hệ thống các hiện tượng ký sinh gọi là ký sinh trùng học.

2.2 Nguồn gốc của sinh vật sống ký sinh.

Thường nguồn gốc của sinh vật sống ký sinh chia làm 2 giai đoạn:

2.2.1 Sinh vật từ phương thức sinh sống cộng sinh đến ký sinh.

Cộng sinh là 2 sinh vật tạm thời hay lâu dài sống chung với nhau, cả 2 đều có lợi hay 1 sinh vật có lợi (cộng sinh phiến lợi) nhưng không ảnh hưởng đến sinh vật kia. Hai sinh vật sống cộng sinh trong quá trình tiến hóa một bên phát sinh tác hại bên kia, lúc này từ công sinh chuyển qua ký sinh.

Ví dụ như amíp: Endamoecha histokytica Schaudinn sống trong ruột người dưới dạng thể dinh dưỡng nhỏ lấy các chất cặn bã để tồn tại không gây tác hại cho con người lúc này nó là cộng sinh phiến lợi, nhưng lúc cơ thể ký chủ do bị bệnh tế bào tổ chức thành ruột bị tổn thương, sức đề kháng yếu, amíp thể dinh dưỡng nhỏ tiết ra men phá hoại tế bào tổ chức ruột chui vào tầng niêm mạc ruột chuyển thành amíp thể dinh dưỡng lớn có thể gây bệnh cho người. Như vậy từ cộng sinh amíp đã chuyển thành ký sinh.

2.2.2 Sinh vật từ phương thức sống tự do chuyển qua ký sinh giả đến ký sinh thật.

Tổ tiên của ký sinh trùng có thể sống tự do, trong quá trình sống do một cơ hội ngẫu nhiên, nó có thể sống trên bề mặt hay bên trong cơ thể sinh vật khác, dần dần nó thích ứng với môi trường sống mới, ở đây có thể thỏa mãn được các điều kiên sống, nó bắt đầu gây tác hại đến sinh vật kia trở thành sinh sống ký sinh. Phương thúc sinh sống ký sinh này được hình thành thường xuyên do ngẫu nhiên lặp đi lặp lại nhiều lần thông qua ký sinh giả rồi đến ký sinh thật.

Tổ tiên của sinh vật ký sinh trải qua một quá trình lâu dài để thích nghi với hoàn cảnh môi trường mới, về hình thái cấu tạo và đặc tính sinh lý, sinh hóa của cơ thể có sự biến đổi lớn. Một số cơ quan trong quá trình sinh sống ký sinh không cần thiết thì thoái hóa hoặc tiêu giảm như cơ quan cảm giác, cơ quan vân động… Những cơ quan để đảm bảo sự tồn tại của nòi giống và đời sống ký sinh thì phát triển mạnh như cơ quan bám, cơ quan sinh dục. Một số đặc tính sinh học mới được hình thành và dần dần ổn định, và di truyền cho đời sau, qua nhiều thế hệ, cấu tạo cơ thể càng thích nghi với đời sống ký sinh.

2.2.3 Phương thức ký sinh.

a. Dựa theo tính chất ký sinh của ký sinh trùng để chia:

+ Ký sinh giả: Ký sinh trùng ký sinh giả thông thường trong điều kiện bình thường sống tự do chỉ đặc biệt mới sống ký sinh ví dụ như: Haemopis sp sống tự do khi tiếp xúc với động vật lớn chuyển qua sống ký sinh.

+ Ký sinh thật: Ký sinh trùng trong từng giai đọan hay trong toàn bộ quá trình sống của nó đều lấy dinh dưỡng của ký chủ, cơ thể ký chủ là môi trường sống của nó. Dựa vào thời gian ký sinh có thể chia làm hai loại:

– Ký sinh có tính chất tạm thời: ký sinh trùng ký sinh trên cơ thể ký chủ thời gian rất ngắn, chỉ lúc lấy thức ăn mới ký sinh như Đỉa cá Piscicola sp hút máu cá.

– Ký sinh mang tính chất thường xuyên: Một giai đọan, nhiều giai đọan hay cả quá trình sống ký sinh trùng nhất thiết phải sống trên ký chủ, ký sinh thường xuyên lại chia ra ký sinh giai đoạn và ký sinh suốt đời.

+ Ký sinh giai đoạn: Chỉ một giai đoạn nhất định trong quá trình phát triển ký sinh trùng sống ký sinh. Trong toàn bộ quá trình sống của ký sinh trùng có giai đọan sống tự do, có giai đọan sống ký sinh như giáp xác chân đốt Sinergasilus giai đoạn ấu trùng sống tự do, giai đoạn trưởng thành ký sinh trên mang của nhiều loài cá.

+ Ký sinh suốt đời: Suốt quá trình sống ký sinh trùng đều sống ký sinh, nó có thể ký sinh trên một ký chủ hoặc nhiều ký chủ, không có giai đoạn sống tự do nên tách khỏi ký chủ là nó bị chết ví dụ như ký sinh trùng Trypanosoma ký sinh trong ruột đỉa cá chuyển qua sống trong máu cá.

b. Dựa vào vị trí ký sinh để chia.

+ Ngoại ký sinh: Ký sinh trùng ký sinh trên bề mặt cơ thể trong từng giai đọan hay suốt đời gọi là ngoại ký sinh. Ở cá ký sinh trùng ký sinh trên da, trên vây, trên mang, hốc mũi, xoang miệng đều là ngoại ký sinh ví dụ như các giống ký sinh trùng Trichodina, Ichthyyophthirius, Argulus, Lernaea

+ Nội ký sinh: Là chỉ ký sinh trùng ký sinh trong các cơ quan nội tang, trong tổ chức trong xoang của ký chủ như: sán lá Sanguinicola sp ký sinh trong máu cá, sán dây Caryophyllaeus sp, giun đầu móc Acanthocephala ký sinh trong ruột cá.

Ngoài 2 loại ký sinh trên còn có hiện tượng siêu ký sinh, bản thân ký sinh trùng có thể làm ký chủ của ký sinh trùng khác ví dụ: Sán lá đơn chủ Gyrodactylus sp ký sinh trên cá nhưng nguyên sinh đọng vật Trichodina sp lại ký sinh trên sán lá đơn chủ Gyrodactylus sp. Như vậy sán lá đơn chủ Gyrodactylus là ký chủ của Trichodina nhưng lại là ký sinh trùng của cá. Tương tự như trùng mỏ neo Lernaea sp ký sinh trên cá, nguyên sinh động vât Zoothamnium sp ký sinh trên mỏ neo Larnaea sp.

2.2.4 Các loại ký chủ.

Có rất nhiều lọai ký sinh trùng có quá trình phát triển qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đọan có đặc điểm hình thái cáu tạo và yêu cầu điều kiện môi trường sống khác nhau nên có sự chuyển đổi ký chủ. Thường chia làm 2 loại ký chủ theo hình thức ký sinh của ký sinh trùng. Để hiểu thế nào là ký chủ trung gian và ký chủ cuối cùng ta xem ví dụ sau:

Ví dụ 1: Ở ruột cá chép:

Ví dụ 2: Sán lá gan ký sinh ở các động vật cá là ký chủ cuối cùng

– Ký chủ cuối cùng: Ký sinh trùng ở giai đoạn trưởng thành hay giai đọan sinh sản hữu tính ký sinh lên ký chủ thì gọi là ký chủ cuối cùng.

– Ký chủ trung gian: Ký sinh trùng ở giai đoan ấu trùng hay giai đoạn sinh sản vô tính ký sinh lên ký chủ gọi là ký chủ trung gian. Gian đoạn ấu trùng và giai đọan sinh sản vô tính nếu ký sinh qua 2 ký chủ trung gian thì ký chủ đầu tiên là ký chủ trung gian thứ nhất còn ký chủ kế tiếp là ký chủ trung gian thứ 2.

2.2.5 Phương thức cảm nhiễm của ký sinh trùng.

Ký sinh trùng cảm nhiễm chủ yếu bằng 2 con đường:

a. Cảm nhiễm qua miệng.

Trứng, ấu trùng, bào nang của ký sinh trùng theo thức ăn, theo nước vào ruột gây bênh cho cá như: Ký sinh trùng hình cầu Eimeria sp, giun tròn Capilaria sp.

b. Cảm nhiễm qua da.

Ký sinh trùng qua da hoặc niêm mạc, ở cá còn qua vây và mang đi vào cơ thể gây bệnh cho ký chủ, cảm nhiễm qua da có 2 loại:

– Cảm nhiễm qua da chủ động: Ấu trùng chủ động chui qua da hoặc niêm mạc vào trong cơ thể ký chủ. Ví dụ ấu trùng sán lá Posthodiplostonum cuticola đục thủng và chui vào lớp dưới da tiếp tục phát triển.

– Cảm nhiễm qua da bị động : Ký sinh trùng thông qua vật môi giới vào được da của ký chủ để ký sinh gây bệnh. Ví dụ: Ký sinh trùng Trypanosoma sp. Nhờ đỉa cá đục thủng da hút máu cá khi đó ký sinh trùng từ ruột đỉa vào máu cá.

2.2.6 Mối quan hệ giữa ký sinh trùng, ký chủ và điều kiện môi trường.

Ký sinh trùng, ký chủ và điều kiện môi trường có quan hệ với nhau rất mật thiết. Quan hệ giữa ký sinh trùng với ký chủ phụ thuộc vào giai đoan phát triển, chủng loại, số lượng ký sinh trùng, vị trí ký sinh và tình trạng sinh lý của ký chủ. Điều kiện môi truờng sống của ký chủ ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến ký sinh trùng, ký chủ và mối quan hệ giữa chúng.

a. Tác động của ký sinh trùng đối với ký chủ.

Ký sinh trùng khi ký sinh lên ký chủ gây hậu quả ở mức độ tuy khác nhau nhưng nhìn chung làm cho ký chủ sinh trưởng chậm, phát dục không tốt, sức đề kháng giảm có thể bị chết. Có thể tóm tắt ảnh hưởng của ký sinh trùng đối với ký chủ như sau:

b. Tác động kích thích cơ học và gây tổn thương tế hào tổ chức

Đây là tác dụng thông thường nhất của ký sinh trùng đối với ký chủ như ban đêm giun kim bò quanh hậu môn người làm cho ngưới có giun kim ký sinh ngứa ngáy khó chịu.

VD: Rận cá Argulus dùng miệng và gai ở bụng cào lên da cá kích thích làm cho cá khó chịu bơi lội hỗn loạn hoặc nhảy lên mặt nước.

• Tác động đè nén và làm tắc: có một số ký sinh trùng ký sinh ở các cơ quan bên trong làm cho một số tổ chức tế bào bị teo nhỏ lại hoặc bị tê liệt rồi chết. Loại tác dụng này thường thấy ở tổ chức gan, thận, tuyến sinh dục như sán dây Ligula sp. Một số ký sinh trùng ký sinh chèn ép một số cơ quan quan trọng như tim, não… dẫn đén làm cho ký chủ chết nhanh chóng. Ký sinh trùng ký sinh số lượng lớn trong ruột có thể làm tắc ruột của vật chủ như Acanthocephala sp, Boethriocephalus sp

• Tác động lấy chất dinh dưỡng của ký chủ: Tất cả ký sinh trùng ở giai đoạn ký sinh đều cần chất dinh dưỡng từ ký chủ, vì vậy nên nhiều hay ít ký chủ đều bị mất chất dinh dưỡng và bị gây tổn hại cho cơ thể. Ký sinh trùng Lernaea ký sinh trên cá mè, cá trắm với số lượng lớn sẽ làm cho gầy thường thấy đầu rất to, bụng và đuôi thót lại nếu không xử lý vật chủ sẽ chết.

• Tác động gây độc với ký chủ: Ký sinh trùng trong quá trình ký sinh tiến hành trao đổi chất, bài tiết chất cặn bã lên cơ thể ký chủ đồng thời ký sinh trùng tiết ra chất độc gây độc cho ký chủ. Qua nhiều kết quả nghiên cứu cho biết rận cá Argulus có khả năng tiết ra dịch phá hoại tổ chức da và mang cá. Đỉa cá hút máu cá tiết ra mem chống đông máu, ký sinh trùng Trypanosoma sp có men làm vỡ tế bào hồng cầu.

• Làm môi giới gây bệnh: Những sinh vật ký sinh hút máu thường làm môi giới cho một số ký sinh trùng khác xâm nhập vào cơ thể ký chủ ví dụ: Đỉa cá hút máu cá thường mang một số ký sinh trùng lây cho cá khỏe mạnh.

• Tác dụng của ký chủ đối với ký sinh trùng: Vấn đề tác dụng của ký chủ đối với ký sinh trùng rất phức tạp, đối với động vật thủy sản nghiên cứu về vấn đề này chưa nhiều nên sự ảnh hưởng thật cụ thể khó có thể kết luận chính xác.

 

c. Phản ứng của tế bào tổ chức ký chủ

Ký sinh trùng xâm nhập vào cơ thể ký chủ gây kích thích làm cho tế bào tổ chức có phản ứng. Biểu hiện ở nơi ký sinh trùng đi vào tổ chức mô hình thành bào nang hoặc tổ chức xung quanh vị trí ký sinh có hiện tượng tế bào tăng sinh, viêm loét để hạn chế sinh trưởng và phát triển của ký sinh trùng, mặt khác làm cho vị trí bám của ký sinh trùng không còn vững chắc.

ví dụ : Ký sinh trùng quả dưa Ichthyophthirius ký sinh trên da cá, da của ký chủ nhận kích thích, tế bào thượng bì tăng sinh bao vây ký sinh trùng thành các bọc trắng lấm tấm nên còn gọi là bệnh. Sán lá Posthodiplostonrum cuticola ký sinh trên da và cơ cá hình thành bào nang, vách có tế bào sắc tố đen bao vây nên da cá có các hạt lấm tấm đen.

d. Phản ứng của dich thể.

Ký sinh trùng xâm nhập vào thì ký chủ sản sinh ra phản ứng dịch thể. Phản ứng dịch thể có nhiều dạng như: phát viêm, thấm thấu dịch để pha loãng các chất độc, vừa tăng khả năng thực bào làm sạch các dị vật và các tế bào chết của bệnh. Nhưng phản ứng dịch thể chủ yếu là sản sinh ra kháng thể, hình thành phản ứng miễn dịch.

e. Tuổi của ký chủ ảnh hưởng đến ký sinh trùng.

Thường ký chủ trong quá trình phát triển thì cơ thể tăng trưởng, ký sinh trùng ký sinh trên cơ thể ký chủ cũng có sự thay đổi cho thích hợp. Đối với ký sinh trùng chu kỳ phát triển có ký chủ trung gian thường xảy ra hai hướng:

• Một số giống loài ký sinh trên cơ thể ký chủ có cường độ và tỷ lệ cảm nhiễm giảm đi theo sự tăng lên của tuổi ký chủ ví dụ sán dây Bothriocephalus gowkongensis

• Một số ký sinh trùng ký sinh có cường độ và tỷ lệ nhiễm ký sinh tăng lên theo tuổi của ký chủ do lượng thức ăn tăng làm trong thức ăn ký chủ trung gian cũng tăng theo, thời gian càng dài khả năng tích tụ và cơ hội nhiễm bệnh càng nhiều. Vì vậy cá lớn thường có cường độ và tỷ lệ cảm nhiễm ký sinh trùng càng cao.

Một số ký sinh trùng phát triển không qua ký chủ trung gian ít có liên quan đến tuổi của ký chủ như: Chilodonella sp, Trichodina nobilis ký sinh trên cá ở các giai đoạn. Tuy nhiên ở giai đoạn cá bột, cá hương giống nếu nuôi mật độ dày, cơ thể còn non nên thường có cường độ và tỷ lệ cảm nhiễm cao và gây thiệt hại lớn cho sản xuất.

 

f. Tính ăn của ký chủ ảnh hưởng đến ký sinh trùng.

Trừ số ký sinh trùng là ngoại ký sinh và loại ký sinh trùng chui trực tiếp qua da vào ký sinh bên trong cơ thể ký chủ ra còn lại ký sinh trùng là nội ký sinh chịu tác động rất lớn đến chuỗi thức ăn của cá.

Cá hiền ăn mùn bã hữu cơ, thực vật thủy sinh, động vật nhỏ nên hay cảm nhiễm ký sinh trùng có chu kỳ phát triển trực tiếp hay giun sán có chu kỳ phát triển qua 1 ký chủ trung gian là động vật phù du.

Ví dụ: cá hiền hay cảm nhiễm ký sinh trùng là thích bào tử trùng Cnidosporidia, cá trắm cỏ thường cảm nhiễm ký sinh trùng Balantinidium.

Ngược lại cá dữ ăn các động vật thủy sinh lớn và ăn cá thường bị cảm nhiễm các loại ký sinh trùng có chu ký phát triển phức tạp. Giai đoạn ấu trùng của ký sinh trùng ký sinh ở các loại ký chủ là con mồi của cá dữ như cá nheo, cá thiểu hay cảm nhiễm sán lá song chủ Isoparorchis sp cá trê, cá vược… thường cảm nhiễm sán lá song chủ Dollfustrema sp.

Cá ăn sinh vật đáy bị cảm nhiễm các loài giun sán mà quá trình phát triển của chúng có qua ký chủ trung gian là nhuyễn thể, ấu trùng côn trùng… như cá chép thường bị cảm nhiễm sán dây Caryophyllacreus.

g. Tình trạng sức khỏe của ký chủ tác động đến ký sinh trùng.

Động vật khỏe mạnh sức đề kháng tăng không dễ dàng bị cảm nhiễm ký sinh trùng, ngược lại động vật gầy yếu sức đề kháng giảm, ký sinh trùng dễ dàng xâm nhập vào.

Ví dụ: trong các ao nuôi cá nếu nuôi mật độ cao, thức ăn thiếu, môi trường nước bẩn cá chậm lớn dễ dàng nhiễm bệnh hơn.

2.2.7 Tác dụng của điều kiện môi trường đối với ký sinh trùng.

Ký sinh trùng sống ký sinh trên cơ thể ký chủ nên nó chịu tác động bởi môi trường thứ nhất là ký chủ đồng thời môi trường ký chủ sống hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp có ảnh hưởng đến ký sinh trùng.

a. Độ mặn của thủy vức ảnh hưởng đến ký sinh trùng.

Độ mặn trong các thủy vực ảnh hưởng đến hệ sinh thái của cá và khu hệ ký chủ trung gian, ký chủ cuối cùng của ký sinh trùng. Giữa các giống loài cá sự mẫm cảm giữa ký sinh trùng có khác nhau nên khi khu hệ cá thay đổi ảnh hưởng đến khu hệ ký sinh trùng. Độ muối cao làm ảnh hưởng đến sự phát triển của ký chủ trung gian, ký sinh trùng cá nước ngọt.

b. Ảnh hưởng của nhịệt độ nước đến ký sinh trùng .

Nhiệt độ nước không những ảnh hưởng trực tiếp đến ký sinh trùng ký sinh trên cơ thể động vật thủy sản mà còn ảnh hưởng đến ký chủ trung gian, ký chủ cuối cùng và điều kiện môi trường. Mỗi giống loài ký sinh trùng có thể sống, phát triển ở nhiệt độ thích ứng. Nhiệt độ quá cao hay quá thấp đều không phát triển được.

Ví dụ: sán lá đơn chủ 16 móc Dactylogyrus vastator ở nhiệt độ 24-26oC sau khi trưởng thành 4-5 ngày sẽ thành thục và đẻ trứng, 3-4 ngày phôi phát triển tỷ lệ nở 80-90%, nhưng sán lá đơn chủ 16 móc loài Dactylogyrus extensus thich hợp nhiệt độ 15oC, nếu nhiệt độ cao tỉ lệ nở của trứng sẽ rất thấp

c. Đặc điểm của thủy vực ảnh hưởng đến ký sinh trùng.

Thủy vực tự nhiên, thủy vực nuôi động vật thủy sản do diện tích có độ sâu, hàm lượng dinh dưỡng khác nhau nên đã ảnh hưởng đến thành phần số lượng và cường độ cảm nhiễm của ký sinh trùng. Trong các thủy vực tự nhiên số loại ký sinh trùng phong phú hơn trong các ao nuôi, do trong các thủy vực tự nhiên , khu hệ động vật là ký chủ trung gian, ký chủ cuối cùng cũng đa dạng hơn. Trong khi đó, thủy vực ao thường xuyên được tẩy dọn, diệt tạp, tiêu độc. Tuy thế tôm cá nuôi trong ao mật độ dày đôi lúc có bón phân và cho ăn nên môi trường nước bẩn hơn làm cho ký sinh trùng ký sinh trên tôm, cá phát triển thuận lợi và dễ lây lan. Mặt dù số lượng giống, loài ít hơn nhưng cường độ và tỷ lệ cảm nhiễm của ký sinh trùng trên tôm , cá cao hơn các thủy vực mặt nước lớn.

Hóa chất thủy sản Việt Mỹ™ chuyên sản xuất và bán các loại hóa chất thủy sản Gọi ngay chi nhánh gần nhất cuối trang web.

Gọi ngay